CFC
Khách viếng thăm sẽ rất thiệt thòi đấy!!! Đăng nhập để chia sẻ...
Login để yêu thương... ^^



Conan Fan Club
 
Trang ChínhĐăng kýĐăng Nhập

Share | 
 

 Vụ Án Mạng Ở Vùng Mesopotamie - Agatha Christie

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1, 2
Tác giảThông điệp
rin_snow

avatar

Nữ Libra
Tổng số bài gửi : 701
Birthday : 03/10/1995
Age : 22
Đến từ : thời đồ đá

Bài gửiTiêu đề: Vụ Án Mạng Ở Vùng Mesopotamie - Agatha Christie   21/6/2013, 10:21

First topic message reminder :

hihi, lâu lâu vào post phát

Agatha Christie


Vụ Án Mạng Ở Vùng Mesopotamie




Người dịch: Dương Linh

Đánh máy: HanAn
Tình trạng: Full
Nguyên tác: MUDER IN MESOPOTAMIE
“Tặng nhiều bạn của tôi làm việc khảo cổ tại Iraq và Syria. A.C.”


Nguồn: vnthuquan

LỜI NÓI ĐẦU

CỦA BÁC SĨ GILES REILLY

 

Những sự việc kể trong chuyện này xẩy ra cách đây đã bốn năm, và tôi thấy nó cần được thuật lại một cách thật trung thực, khách quan. Thiên hạ đồn thổi rất nhiều chuyện vô lý chung quanh vấn đề này; báo chí Mỹ hồi ấy cũng tung ra nhiều thông tin sai lạc.
Tốt nhất là bản tường thuật này nên do một người trong cuộc viết, một người mà ta không thể nghi ngờ là có thiên kiến với ai. Tôi liền khuyên cô Leatheran nên đảm nhận trách nhiệm này. Theo tôi, cô đúng là người có thể làm tròn nhiệm vụ. Cô có kiến thức chuyên môn tốt, lại không hề quen biết trước các thành viên của đoàn khảo cổ trường đại học Pitlstown hoạt động tại Iraq. Thông minh và có óc quan sát, cô là một nhân chứng rất quý, ở ngay tại chỗ.
Cô Leatheran ngần ngại mãi mới chịu nhận lời, và đến khi viết xong, phải hối thúc mãi cô mới đưa tôi xem bản thảo. Sau này tôi mới biết sự do dự ấy một phần là do trong đó có một số chỗ cô đã nhận xét về Sheila, con gái tôi. Tôi vội làm cô yên tâm ngay: thật vậy, thời nay, bố mẹ thường quá nuông chiều con cái, và con cái thì không ngại chỉ trích bố mẹ. Mặt khác, cô rất khiêm tốn khi nói về văn phong của mình, cô yêu cầu tôi sửa giùm những sai sót về chính tả và ngữ pháp. Nhưng tôi đã không chữa một chữ nào. Theo tôi, cô Leatheran viết rất có hồn, có bản sắc. Chương này, cô gọi trống không nhà thám tử người Bỉ là “Poirot”, chương sau lại viết “Ông Poirot”, sự thay đổi ấy là rất hay, hàm chứa ý nghĩa. Đó là vì dù sao, cô cũng được giáo dục một cách cặn kẽ (thật vậy, chớ quên là các nữ y tá ở nước Anh luôn tuân thủ nghiêm túc nội quy).
Tôi chỉ tự cho phép mình một điều duy nhất, là viết chương mở đầu, dựa vào bức thư mà một cô bạn của Leatheran vui lòng chuyển cho tôi. Thư này sẽ giúp bạn đọc có một ý niệm về tính cách của tác giả thiên truyện này.


Được sửa bởi rin_snow ngày 23/6/2013, 20:20; sửa lần 2.
Về Đầu Trang Go down
http://huyetnguyetlau.wordpress.com/

Tác giảThông điệp
rin_snow

avatar

Nữ Libra
Tổng số bài gửi : 701
Birthday : 03/10/1995
Age : 22
Đến từ : thời đồ đá

Bài gửiTiêu đề: Re: Vụ Án Mạng Ở Vùng Mesopotamie - Agatha Christie   28/6/2013, 08:54


Chương 25


TỰ VẪN HAY BỊ GIẾT?


 Tôi không kịp hỏi thêm Poirot, vì đúng lúc đó đại úy Maitland đứng bên dưới gọi chúng tôi xuống, cần gặp ngay.
Chúng tôi xuống thang, nhảy mấy bậc một. Đại úy mở đầu:
- Ông Poirot này, lại một chuyện rắc rối nữa: ông thầy tu đã biến mất.
- Cha Lavigny?
- Phải. Không ai để ý, mãi mới đây có người nói không thấy ông cha đâu. Chúng tôi vào phòng tìm, thấy giường vẫn nguyên vẹn, mà ông cha không để lại dấu tích.
Tôi tưởng như đang mơ: vụ đầu độc cô Johnson, nay là cha Lavigny bỏ trốn.
Bọn gia nhân được gọi lên để truy hỏi, nhưng họ đều nói không biết gì. Tối qua lúc tám giờ, ông ta nói đi dạo chơi một lát trước khi về ngủ.
Và không ai thấy ông ta quay về.
Như thường lệ, chiếc cổng lớn đã đóng và khóa lúc chín giờ. Sáng nay, không ai nói mình đã ra mở cổng. Hai tên bồi trẻ thì đứa này tưởng đứa kia làm việc đó.
Vậy tối qua, cha Lavigny có về nhà không? Hay trong khi đi dạo, ông ta đã phát hiện ra điều gì và muốn đi sâu tìm hiểu? Hay phải coi ông là nạn nhân thứ ba?
Đại úy quay về lúc bác sĩ Reilly cùng ông Mercado đi tới.
- Thế nào, ông Reilly, có gì mới?
- Đã xong, tôi vừa cùng ông Mercado soát lại. Đúng là axit clorydric lấy của phòng thí nghiệm.
- Phòng thí nghiệm? Phòng có khóa không?
Ông Mercado lắc đầu. Tay ông run run, mặt ông tái mét. Ông lắp bắp:
- Phòng ít khi khóa... vì mọi người có việc ra vào luôn. Tôi... nào có ai ngờ…
- Ban đêm có khóa không?
- Ban đêm thì có, cũng như tất cả các phòng khác. Các chìa khóa đều treo trên đinh, trong phòng chung.
- Nghĩa là ai giữ chìa khóa phòng ấy có thể lấy tất cả các chìa khóa khác?
- Vâng.
- Một chìa khóa bình thường?
- Bình thường.
Đại úy Maitland hỏi:
- Không có gì chứng tỏ cô Johnson tự tay lấy axit trong phòng thí nghiệm?
- Cô ấy không lấy! - tôi vội kêu một cách khẳng định.
Có một bàn tay khẽ đặt lên cánh tay tôi, Poirot đứng đằng sau tôi.
Lúc đó, một sự việc trớ trêu xẩy ra.
Trớ trêu không phải vì bản thân sự việc… mà là do hoàn cảnh, không đúng lúc.
Một chiếc xe hơi tiến vào sân, và một người bé nhỏ, đội chiếc mũ thuộc địa, khoác áo "tanh-cốt” dày, thong thả bước xuống, reo lên:
- A, ông đây rồi! Rất vui mừng gặp ông. Tôi qua đây chiều thứ bảy, trên đường đi đến chỗ người Ý ở Fugima. Tôi đã thăm khu khai quật của các ông, nhưng không gặp một ai là người da trắng. Mà tôi không biết tiếng A rập và không có thì giờ để ghé qua khu trụ sở. Sáng sớm nay tôi từ Fugima trở về, sẽ ở lại đây hai tiếng cùng ông. Thế nào! Công việc ra sao?
Thật mỉa mai.
Giọng vui vẻ, tác phong tự nhiên của một người từ thế giới bình thường tới, làm chúng tôi sững sờ. Ông ta không biết gì về thảm kịch, nhảy xuống chúng tôi với vẻ hồ hởi tràn trề.
Giáo sự Leidner ấp úng câu gì không rõ, rồi đưa mắt về bác sĩ Reilly, khẩn cầu bác sĩ giúp giải quyết hộ vị khách.
Bác sĩ liền kéo người nọ ra chỗ khuất và cho biết sự thật.
Sau này tôi biết vị khách nọ là một nhà khảo cổ người Pháp tên là Verrier đang khai quật ở các đảo thuộc Hy lạp. Verrier sửng sốt, vội vã xin lỗi và chia buồn. Ông lao tới giáo sư Leidner, bắt tay nồng nhiệt.
- Ôi đau buồn! Trời! Tôi không biết nói gì hơn...
Ông khách ân hận lắc đầu, bất lực không thể giãi bày ý nghĩ, xin cáo từ, lên xe mà đi.
Bác sĩ Reilly nói giọng kiên quyết:
- Bây giờ ta phải nghĩ đến bữa ăn. Leidner, tôi yêu cầu ông phải giữ gìn sức khỏe.
Ông giáo sư nay chỉ còn là cái thân tàn, theo chúng tôi vào phòng ăn. Chẳng ai thiết ăn uống, tuy nhiên tách cà phê nóng và món trứng rán cũng làm mọi người hồi phục phần nào. Giáo sư Leidner nhấp chút cà phê và ít bánh. Mặt ông xám màu tro, thể hiện sự khổ đau cùng cực.
Sau bữa ăn sớm, đại úy Maitland lần lượt hỏi mọi người.
Tôi nói là nghe tiếng động nên thức dậy và chạy sang phòng cô Johnson.
- Và cô nói thấy một cái cốc lăn dưới đất?
- Vâng, chắc uống xong thì cô buông rơi.
- Cốc có vỡ không?
- Không, nó lăn theo chiếc vải trải giường. Tôi nhặt lên, đặt trên bàn.
- Cám ơn cô đã cung cấp chi tiết. Chúng tôi chỉ tìm thấy hai loại vân tay, một rõ ràng của cô Johnson, và một của cô.
Ông yêu cầu tôi khai tiếp.
Tôi tả tỉ mỉ những việc đã làm với cô Johnson, đưa mắt nhìn bác sĩ Reilly. Bác sĩ gật đầu:
- Trường hợp ấy, cô làm những việc đó là đúng.
Lời bác sĩ Reilly làm tôi thanh thản, mặc dù trước đó tôi nghĩ đã không bỏ sót việc gì có thể làm để cứu cô Johnson.
- Lúc bấy giờ cô có biết cô ấy uống gì? - đại úy hỏi tôi.
- Không... nhưng tôi biết ngay đó là một chất axit mạnh.
Đại úy nghiêm trang hói:
- Cô có cho là cô Johnson đã chủ động uống?
- Ồ! Không! Không đời nào tôi thoáng có ý nghĩ ấy.
Không hiểu tại sao tôi dám khẳng định vậy. Có thể tôi đã bị câu nói của ông Poirot ảnh hưởng: "Giết người trở thành thói quen". Hơn nữa, không ai lại chọn kết liễu cuộc đời bằng cái chết đau đớn thế.
Tôi nói ý nghĩ đó với đại úy, và đại úy tỏ vẻ tán thành:
- Thật vậy, thường không ai chọn cách chết ấy, trừ khi trong lúc tuyệt vọng, trong tay không có cách nào khác.
- Cô ấy tuyệt vọng đến mức ấy sao? - tôi hỏi.
Bà Mercado cho là như thế. Bà ấy nói tối qua, cô Johnson rất bối rối đến mức không buồn trả lời ai gợi chuyện. Bà Mercado khẳng định cô ấy đã bị những ý nghĩ đen tối ám ảnh, và đã nghĩ đến chuyện tự vẫn từ lúc đó.
- Không, tôi không tin chút nào! - tôi kiên quyết bác bỏ.
- A! Cái bà Mercado! Thật độc mồm độc miệng.
- Vậy, quan điểm của cô thế nào.
- Cô ấy bị người ta đầu độc!
Đại úy hỏi câu tiếp theo bằng giọng nghiêm nghị như hỏi người dưới quyền.
- Vì sao cô tin như vậy?
- Tôi không thấy lý do nào khác.
- Đó chỉ là ý kiến cá nhân của cô. Tại sao phải thủ tiêu cô ấy? Tôi không thấy động cơ nào...
- Xin lỗi. Có động cơ. Cô Johnson đã vén một góc màn bí mật.
- Cô ấy đã phát hiện điều gì?
Tôi nhắc lại, từng lời một, câu chuyện trên sân thượng.
- Cô ấy không chịu nói rõ hơn?
- Có, nhưng cô nói để còn suy nghĩ.
- Cô ấy có vẻ xao xuyến?
- Có.
- “Có một cách đột nhập từ ngoài vào” - đại úy cau mày nhắc lại - Cô ấy định nói gì nhỉ?
- Không biết. Tôi cũng đã nghĩ nát óc.
- Còn ông, ông Poirot, ông nghĩ sao? - đại úy hỏi.
Poirot đáp:
- Ông thấy đấy, đó là một động cơ rất thuyết phục.
- Đủ để giết một người?
- Đủ để giết một người.
Đại úy Maitland càng chau mày dữ:
- Trước khi chết cô ấy nói được gì?
- Có. Cô lắp bắp được ba từ.
- Những từ gì?
- “Cái cửa sổ”.
- “Cái cửa sổ”? - đại úy Maitland nhắc lại - Và cô có hiểu cô ấy muốn nói gì?
Tôi lắc đầu.
- Trong phòng ngủ cô ấy có bao nhiêu cửa sổ?
- Chỉ có một.
- Nhìn ra sân?
- Phải.
- Cửa mở hay đóng? Nếu tôi nhớ không nhầm, thì cửa mở. Nhưng có thể một người nào đó đã mở ra?
- Không, nó luôn luôn mở. Tôi tự hỏi...
Tôi ngừng bặt.
- Cô nói tiếp đi!
- Tôi đã xem xét của sổ, không có gì bất thường. Tôi tự hỏi có sự đánh tráo cốc qua cái cửa này chăng.
- Đánh tráo cốc?
- Vâng. Cô Johnson có thói quen để sẵn cốc nước để dùng ban đêm. Có người đã lấy cốc đi, thay bằng cốc axit clorydric.
- Ông nghĩ sao, bác sĩ Reilly?
- Nếu là giết người, hung thủ chắc sẽ làm cách ấy. Nếu tỉnh, không ai ống thuốc độc thay nước. Nhưng nếu có thói quen uống nước lúc nửa đêm, người ta đưa tay ra như máy, vớ cái cốc ở chỗ đã để sẵn, rồi trong lúc ngái ngủ, có thể uống kha khá mới kịp nhận ra sự nhầm lẫn tai hại.
Đại úy Maitland suy nghĩ một lát.
- Tôi sẽ quay lại để xem cái cửa sổ. Nó cách đầu giường bao xa?
- Với tay ra thì tới chiếc bàn nhỏ kê đầu giường.
- Và cốc nước đặt trên bàn ấy?
- Phải.
- Cửa ra vào có khóa không?
- Không.
- Nếu vậy, muốn đánh tráo, có thể đi thẳng vào phòng.
- Tất nhiên.
- Nhưng như thế sẽ nguy hiểm hơn - bác sĩ Reilly nói - Người dù ngủ say vẫn có thể bất thần thức dậy. Thò tay qua cửa sổ để đánh tráo, vẫn an toàn hơn.
- Tôi không chỉ nghĩ riêng cái cốc... - đại úy Maitland nói lơ mơ.
Rồi ông như bừng tỉnh, lại hỏi:
- Theo cô, cô Johnson biết mình sắp chết, đã cố nói để cô biết là có người đã đánh tráo cốc axít thay cốc nước qua của sổ mở? Nhưng theo tôi, cô ấy phải nói ra tên thủ phạm thì mới đúng...
- Có thể cô không nhận ra người đánh tráo là ai - tôi nói.
- Hoặc cô ấy phải nói hôm trước đã phát hiện cái gì.
Bác sĩ Reilly chen vào:
- Lúc thập tử nhất sinh rồi, con người đâu có nhớ ra thứ tự các vấn đề cần nói. Một bàn tay thò qua cửa sổ, đó có thể là hình ảnh in hằn vào trí óc vào giờ phút cuối cùng của người đó. Cô Johnson cho điều đó là quan trọng nhất, cần thông báo. Theo tôi, như thế là đúng: vấn đề đó có tầm quan trọng đặc biệt, cô ấy không muốn để bị hiểu nhầm là mình tự tử. Nếu nói được bình thường, hẳn cô ấy sẽ nói như sau: "Tôi không tự tử. Có kẻ đã đặt chất độc gần giường qua cửa sổ”.
Đại úy Maitland không đáp, gõ tay lên bàn, rồi nói:
- Có hai cách giải thích cái chết này: tự tử, hay bị giết. Cách nào là khả năng hơn cả, thưa giáo sư.
Sau vài giây suy nghĩ, ông Leidner đáp, giọng bình tĩnh, dứt khoát:
- Bị giết. Anne Johnson không phải người tự hủy hoại đời mình.
- Không phải... Nhưng đó là trong hoàn cảnh bình thường. Trong những trường hợp nào đó, tự tử lại là một lối thoát thuận tiện - đại úy vặn vẹo.
- Ông nói rõ xem nào.
Đại úy cúi xuống nhặt một cái gói mà tôi thấy ông đặt dưới chân ghế từ nãy, ông bê nó đặt lên bàn, có vẻ khá nặng.
- Mọi người chưa biết gói này là cái gì, chắc thế. Tôi tìm thấy nó trong gầm giường cô Johnson.
Ông mở gói, để lộ ra một cái thớt cối xay.
Vật này với chúng tôi chẳng có gì lạ. Đoàn khai quật đã đào được hơn chục cái như thế.
Nhưng trên cái thớt này có một vết sẫm và mấy sợi tóc dính vào. Đại úy nói:
- Vết này là vết gì, bác sĩ Reilly sẽ cho ta rõ sau. Nhưng với tôi, không nghi ngờ gì nữa: Cái thớt bằng đá này là hung khí đã giết bà Leidner.
Về Đầu Trang Go down
http://huyetnguyetlau.wordpress.com/
rin_snow

avatar

Nữ Libra
Tổng số bài gửi : 701
Birthday : 03/10/1995
Age : 22
Đến từ : thời đồ đá

Bài gửiTiêu đề: Re: Vụ Án Mạng Ở Vùng Mesopotamie - Agatha Christie   31/1/2014, 21:20

Còn có mấy chương nên Rin post nốt @@





Chương 26


Lần sau đến lượt tôi!



Ôi, cảnh tượng hãi hùng! Giáo sư Leidner như sắp ngất đi, còn tôi thì bàng hoàng.

Bác sĩ Reilly tò mò ngắm nghía vật chứng quan trọng.

- Không có dấu vân tay? - ông hỏi đại úy.

- Không một vết.

Bác sĩ Reilly cầm một cái kẹp, bắt đầu xem xét.
- Hừm... Đây là một mẩu thịt người... vài sợi tóc… vàng... Đó là nhận xét trông thấy rõ. Trước khi kết luận, còn cần nghiên cứu kỹ mẫu máu... Nhưng kết quả gần như đã rõ. Cái thớt này tìm thấy dưới giường cô Johnson? Thế là màn bí mật đã vén: Cô ta phạm tội, rồi - cầu Trời ban phước linh hồn cô - hối hận day dứt, đã tự kết liễu đời mình. Có lý lắm.

Giáo sư Leidner trĩu nặng đau thương, lắc đầu lẩm bẩm:

- Không! Không! Không phải Anne Johnson!

- Trước đó cô ta giấu cái gói này ở đâu? Sau cái chết của bà Leidner, ta đã lục soát tất cả các phòng rồi mà? - Đại úy Maitland hỏi.

Tôi nghĩ bụng: "Trong tử đựng giấy má!", nhưng không nói ra.

Đại úy tiếp:

- Tuy nhiên, cô Johnson thấy chỗ giấu trước không chắc chắn, nên đem cái thớt về phòng mình, vì phòng này đã được khám rồi. Hoặc có thể cô đặt nó dưới gầm giường sau khi quyết định sẽ tự vẫn.

- Tôi không tin! - tôi kêu lên.

Tôi không thể tưởng tượng cô Johnson hiền lành là thế lại đang tâm giáng cái thớt đá lên đầu bà Leidner. Toàn thể con người tôi phẫn nộ trước ý nghĩ đó. Tuy nhiên tôi cũng nhớ lại vài sự trùng hợp khó hiểu. Ví dụ, chuyện cô khóc lóc đêm hôm trước. Chính tôi cũng nghĩ cô khóc lóc là vì “hối hận", nhưng lúc đó chỉ nghĩ đến những chuyện ghen tức nhỏ nhặt giữa cô và người quá cố.

- Tôi chưa biết nên suy luận thế nào - đại úy Maitland nói - Còn phải làm rõ việc ông thầy tu người Pháp mất tích nữa. Người của tôi đang xục xạo trong vùng xem ông có gặp nạn ở đâu không?

- À! Bây giờ tôi mới nhớ... - tôi mấp máy nói.

Mọi con mắt đổ dồn vào tôi.

- Chuyện xảy ra chiều qua. Cha Lavigny hỏi tôi về người mắt lác đã nhòm vào cửa sổ bà Leidner. Ông muốn biết chúng tôi gặp hắn chính xác ở chỗ nào, rồi bảo sẽ đi một vòng về phía ấy, may hắn có đánh rơi vật gì chăng, như trong các tiểu thuyết trinh thám.

- Làm gì có chuyện ấy với những hung thủ mà tôi biết! - đại úy nói - Vậy là ông ta quan tâm việc đó? Nếu cùng một lúc mà cha Lavigny và cô Johnson đều tìm ra dấu vết của thủ phạm, thì là một sự trùng hợp kỳ lạ.

Rồi ông nói thêm, giọng bực tức:

- Người lác mắt? Người lác mắt? Chuyện anh chàng mắt lé này có khi cũng quan trọng hơn ta tưởng. Thế mà quân của tôi vẫn chưa tóm được hắn!

- Có khi tại vì hắn ta chẳng lác mắt tí nào - Poirot điềm nhiên đế vào một câu.

- Ông cho là hắn giả lác ư? Tôi không tin người ta có thể giả lác. Dù sao, tôi sẵn sàng trả giá đắt cho ai tóm được hắn, lác hay không lác cũng không sao!

- Tôi cuộc là hắn đã vượt biên giới Syria - Poirot lại nói.

- Chúng tôi đã báo động cho tất cả các đồn biên phòng.

- Hắn đi các đường mòn qua núi, hoặc theo các đường mà dân buôn lậu thường đi qua bằng xe tải nhỏ.

- Thế thì tôi phải điện báo ngay cho đồn Deir ez Zor.

- Tôi đã làm rồi - Poirot nói - Hôm qua tôi đã căn dặn đồn đó phải bắt giữ chiếc xe chở hai người, dù có hộ chiếu đàng hoàng.

Đại úy Maitland trố mắt nhìn thám tử.

- Ai ông đã làm rồi? Hai người... sao lại hai người?

Poirot gật đầu:

- Phải. Chúng có hai người.

- Ông Poirot. Ông làm cái gì cũng bí mật.

- Không, không phải thế. Tôi mới nhận ra sự thật sáng nay, lúc đứng ngắm mặt trời mọc. Rạng đông tuyệt đẹp!

Không ai để ý là bà Marcado đã có mặt trong phòng. Hẳn là bà đã vào lúc mọi người đang tập trung xem cái thớt có máu.

Đột nhiên không ai ngờ tới, bà kêu thét lên như tiếng lợn bị chọc tiết:

- Trời ơi! Tôi đoán ra rồi. Bây giờ mọi việc đã rõ! Chính là lão cha Lavigny. Lão là một thằng điên... điên vì sùng tín thần bí. Lão cho tất cả phụ nữ đều đáng xuống hỏa ngục, muốn giết hết. Bắt đầu bằng bà Leidner, rồi đến cô Johnson... lần sau đến lượt tôi.

Bà lao đến bám chặt bác sĩ Reilly:

- Tôi không muốn ở đây nữa! Không ở một ngày nào. Nguy hiểm... nguy hiểm lắm. Tên điên ấy trốn ở đâu đây... nó vồ tôi bây giờ...

Vừa nói bà vừa kêu khóc.

Tôi chạy lại bác sĩ Reilly đang giữ lấy cổ tay bà ta. Tôi tát hai cái vào má bà, ấn bà ngồi xuống nói:

- Không ai giết bà cả. Chúng tôi sẽ bảo vệ bà.

Bà không kêu nữa, nhìn tôi bằng đôi mắt nhớn nhác.

Đến đây lại xảy ra tiết mục mới. Cửa mở, Sheila Reilly vào. Vẻ nghiêm trang, cô lại gần Poirot:

- Sáng sớm nay, tôi qua bưu điện. Ở đó có một điện tín gửi ông, nên tôi mang tới.

- Cảm ơn cô lắm.

Poirot cầm điện, mở ra trước con mắt tò mò của cô gái. Poirot bình thản đọc, gấp lại cẩn thận, bỏ vào túi.

Bà Mercado nhìn theo. Bà hỏi thều thào:

- Điện từ đâu?... Từ Mỹ?

- Không... Từ Tunis.

Bà ta ngơ ngác một lúc như không hiểu, rồi thở dài, ngả người xuống ghế:

- Lão Lavigny! Biết ngay mà. Tôi vẫn thấy lão ta hơi kỳ cục. Một hôm, lão ta nói lăng nhăng... đúng là điên.

Ngừng một chút, bà lại tiếp:

- Tôi nhất định phải rời cái nhà này... Tôi và Joseph ra ngủ ở quán trọ.

- Bà hãy yên tâm. Lát nữa tôi sẽ giải thích tất cả - Poirot nói.

Đại úy Maitland nhìn ông bằng con mắt ngờ vực:

- Vậy là ông cho rằng đã nắm được cái nút của vấn đề?

Poirot cúi gập người như diễn viên trên sân khấu, làm cho đại úy càng tức:

- Vậy thì ông nói đi!

Nhưng Hercule Poirot không làm như thế. Tôi cảm thấy ông thích làm cho người khác hoang mang. Ông đã biết sự thật chưa, hay chỉ là lòe bịp?

Ông quay sang bác sĩ Reilly:

- Xin bác sĩ vui lòng mời tất cả lại đây.

Ông bác sĩ vội vàng làm theo lời thám tử. Một phút sau, tất cả những người còn lại đều đã vào phòng. Đầu tiên là Reiter và Emmott, rồi Bill Coleman, Richard Carey, cuối cùng là ông Mercado, ông này mặt mày tái nhợt, chắc đang lo bị kết tội giết người do bất cẩn, không bảo quản nghiêm túc các chất độc hóa học.

Ai nấy ngồi vào bàn, giống như hôm Poirot đến. Bill Coleman và David Emmott rụt rè ngồi xuống ghế, mắt liếc nhìn sang Sheila Reilly. Cô này đứng quay lưng lại họ, trước cửa sổ.

- Cô Sheila, cô cần ngồi không? - Bill Coleman hỏi.

Còn David Emmott ngọt ngào mời:

- Một cô ngồi.

Cô quay lại, nhìn hai chàng trai. Người nào cũng đưa ghế mời, không biết cô sẽ chọn cái nào. Cuối cùng, cô chẳng ngồi ghế nào, cộc lốc:

- Cảm ơn. Tôi đứng cũng được.

Cô tựa vào một góc bàn, gần cửa sổ, nói thêm:

Nếu đại úy cho phép, không thấy gì bất tiện…

Tôi không rõ đại úy sẽ trả lời ra sao, thì Poirot đã nói thay:

- Xin mời cô cứ ở lại. Cần có cô ở đây là đằng khác.

Cô nhướn đôi lông mày:

- Cần có tôi?

- Tôi đã nói rồi. Tôi có một số câu hỏi cần cô trả lời.

Cô lại nhướn mày, nhưng không nói gì. Cô nhìn ra ngoài cửa sổ, như muốn tỏ ra dửng dưng với những gì diễn ra trong phòng.

Đại úy đằng hắng:

- Nào, bây giờ ta sẽ biết sự thật!

Vốn là người của hành động, ông có vẻ sốt ruột. Hình như trong bụng ông đang sôi sục ý nghĩ: "Nếu lão này biết thì nói ra đi, chờ gì nữa!?

Poirot lần lượt nhìn mọi người, và đứng lên. Tôi chờ ở cái ông người Bỉ nhỏ bé này một bài diễn thuyết lâm li, không ngờ ông lại xổ ra một câu tiếng Ả rập.

Vâng, ông nói tiếng Ả rập. Giọng thong thả, long trọng như trong nhà thờ, ông đọc.

- Bismillahi ar rahman ar rahim.

Rồi dịch nghĩa:

"Nhân danh thánh Ala, người đầy Tình thương và Nhân từ!"
Về Đầu Trang Go down
http://huyetnguyetlau.wordpress.com/
rin_snow

avatar

Nữ Libra
Tổng số bài gửi : 701
Birthday : 03/10/1995
Age : 22
Đến từ : thời đồ đá

Bài gửiTiêu đề: Re: Vụ Án Mạng Ở Vùng Mesopotamie - Agatha Christie   31/1/2014, 21:23

CHƯƠNG 27
BƯỚC ĐẦU CUỘC HÀNH TRÌNH



Bismillahi ar rahman ar rahim. Đó là câu cửa miệng người dân ở đây nói trước khi bắt đầu nói một cuộc du hành. Vậy thì chúng ta cũng sắp làm một cuộc hành trình... hành trình vào quá khứ vào những ngóc ngách bí ẩn của tâm hồn con người.

Đến lúc này, tôi vẫn chưa cảm thấy cái mà người ta hay gọi là "vẻ đẹp quyến rũ của phương đông". Điều mà tôi thấy ở khắp nơi, là chỗ nào cũng bẩn. Nhưng những lời của Poirot làm hiện lên trong óc tôi những hình ảnh, gợi lên những tên thành phố như Samarcande và Ispahan... những ông chủ hiệu râu dài... những con lạc đà quỳ gối... những phu vẹo người dưới những bọc hàng to tướng... những người đàn bà giặt giũ bên bờ sông Tigre. Tôi nghe thấy lời ca rền rĩ của họ hòa lẫn tiếng cót két xa xôi của guồng nước...

Tôi đã nghe và thấy tất cả những thứ ấy mà không để ý. Giờ đây, chúng như có một vẻ gì khác giống như một tấm vải cũ giơ lên ánh sáng mặt trời bỗng lung linh hiện lên hoa văn thêu màu rực rỡ.

Rồi tôi liếc nhìn một vòng quanh phòng mọi người đang ngồi, có cảm giác kỳ cục là ông Poirot đã nói đúng: chúng tôi đang lên đường đi một chuyến du hành. Tất cả hợp nhau tại đây, nhưng rồi mỗi người sẽ rẽ một ngã.

Tôi lần lượt quan sát các bạn đồng hành từng người một như tuồng mới nhìn thấy họ lần đầu... và cũng là lần cuối... Nghe có vẻ buồn cười, nhưng cảm nghĩ của tôi đúng là như vậy.

Ông Mercado bồn chồn vặn vẹo ngón tay, đôi mắt mở to nhìn Poirot. Bà Mercado đăm đăm nhìn chồng như con báo cái sẵn sàng chồm lên. Giáo sư Leidner ngồi thu mình, có vẻ càng ủ rũ. Dường như ông không đang ở trong phòng, mà trí óc ông đang lơ lửng ở một vùng nào xa thẳm. Ông Coleman há hốc miệng nhìn Poirot, mặt nghệt, mắt mở to. Tôi không nhìn rõ mặt ông Emmott, vì ông cắm đầu nhìn xuống mũi giầy. Ông Reiter nhăn mặt, giẩu môi, trông càng giống chú lợn trơn tru. Cô Reilly vẫn đứng quay lưng trước cửa sổ, nên khó đoán biết cô nghĩ gì. Tôi nhìn ông Carey: bộ dạng trông thật đáng thương, và tôi quay mặt đi. Chúng tôi đang có mặt tại đây, song tôi không khỏi nghĩ rằng khi Poirot kết thúc bản thuyết trình, chúng tôi sẽ tan tác chia tay...

Poirot cất tiếng đều đều, như dòng sông trôi giữa đôi bờ... ra tới biển:

- Ngay từ đầu, tôi đã cảm thấy, muốn hiểu vụ này, không nên coi trọng những dấu hiệu bên ngoài, mà phải chú ý những mặt khác, làm nổi rõ mâu thuẫn giữa các con người ở đây và những bí ẩn trong trái tim của họ.

Dù rằng bây giờ tôi đã đi tới cái mà tôi cho là lời lý giải đích thực của bí ẩn, tôi vẫn không có được bằng chứng cụ thể. Tôi biết nó thế vì nó phải như thế, vì nếu theo cách lý giải khác thì từng chi tiết sẽ không có chỗ đứng thích hợp dành cho nó.

Theo tôi, đó là cách lý giải duy nhất hợp lẽ.

Ngừng một lát, ông nói tiếp:

- Tôi bắt đầu cuộc hành trình từ lúc mà tôi nhận trách nhiệm điều tra... lúc mà tôi đứng trước một sự việc đã rồi. Theo tôi, mỗi vụ án hình sự đều mang một vẻ, một dạng riêng biệt. Vụ này xoay quanh cá tính của bà Leidner. Chừng nào tôi chưa rõ bà Leidner là người thế nào, tôi không thể tìm ra thủ phạm và động cơ giết người của hắn.

Vậy điểm xuất phát của tôi là đi sâu nghiên cứu tính cách bà Leidner.

Một sự kiện tâm lý khác khiến tôi chú ý: bầu không khí căng thẳng bao trùm lên đoàn khảo cổ. Nhiều người - trong đó có vài người bên ngoài đoàn - đều nhận xét tình trạng đó, và tôi đã ghi nhận để khỏi xa rời trong khi điều tra.

Theo nhận xét chung, bầu không khí ấy là do ảnh hưởng của bà Leidner, nhưng vì những lý do sẽ trình bày sau, tôi chưa thỏa mãn hoàn toàn với giả thuyết ấy.

Trước tiên, tôi cố phân tích tính cách của bà Leidner, các cách để đi tới mục đích ấy không thiếu. Tôi nghiên cứu những phản ứng do bà gây ra ở mọi người trong nhà này, mà nhà này thì mỗi người một tâm tính khác nhau rõ rệt. Kết hợp với những quan sát của riêng tôi, tất nhiên, nhưng hạn hẹp thôi. Tuy nhiên, một số việc khiến tôi không thể bỏ qua.

Bà Leidner có những sở thích đơn giản, có phần khắc khổ nữa, và không ưa xa hoa. Phần lớn thời gian, bà ngồi thêu những mẫu đẹp và tinh tế, chứng tỏ bà có tâm hồn nghệ sĩ, khát khao cái đẹp: Các sách trên giá của bà cho tôi biết bà là người học thức, và tôi đoán là người theo chủ nghĩa cá nhân tuyệt đối.

Người ta làm cho tôi nghĩ rằng bà thích được đàn ông khen nịnh, và bà là người sục sôi dục vọng. Tôi không tin.

Trong phòng bà, trên giá sách, tôi thấy những sách sau: Người Hy lạp là ai?, Sơ khảo về thuyết tương đối, Cuộc đời phu nhân Hester Stanhope, Trở về Mathusalem, Linda Condom, Chuyến tàu Creve.

Bà quan tâm đến văn hóa, khoa học hiện đại... chứng tỏ một trình độ trí tuệ cao. Về tiểu thuyết, thì Linda Comdom và Chuyến tàu Crewe cho biết ở mức độ nào đó, bà ưa những phụ nữ có tính độc lập thoát khỏi vòng cương tỏa của đàn ông... Tôi bắt đầu hiểu ra tâm lý của người đã khuất.

Tiếp đó tôi phân tích dư luận những người chung quanh đối với bà, và hình ảnh bà Leidner càng hiện ra cụ thể trong óc tôi.

Căn cứ lời của bác sĩ Reilly và những người khác, tôi kết luận đây là một phụ nữ được trời phú không chỉ sắc đẹp tuyệt trần, mà cả một sức mạnh tai hại. Những người như thế đi đến đâu gây ra thảm kịch, tại họa đến đấy... phần lớn người khác chịu họa, những đôi khi bản thân họ lại trở thành nạn nhân.

Thế là tôi chắc chắn bà Leidner quá coi trọng bản thân mình, và đặc biệt, lấy sự chế ngự người khác làm vui thú. Ở bất kỳ đâu, bà cũng muốn là trung tâm của vũ trụ. Quanh bà, người nào - đàn ông hay đàn bà - đều phải chấp nhận quyền lực của bà. Một số người không hề cưỡng lại. Cô Leatheran chẳng hạn, vốn bản chất độ lượng, hoàn toàn bị bà chinh phục, và rất ngưỡng mộ bà. Nhưng bà Leidner áp đặt ảnh hưởng của mình bằng cách khác: sự sợ hãi. Khi bà chiến thắng quá dễ, bà thả lỏng những bản năng tàn bạo của mình. Xin nhớ đây không phải là sự tàn bạo có ý thức, mà hoàn toàn bản năng, y như con mèo vờn chuột. Còn trong những hành động có suy nghĩ, ngược lại bà tỏ ra rất tốt, hết lòng giúp đỡ mọi người.

Vấn đề các thư nặc danh cũng rất quan trọng. Ai viết, viết nhằm mục đích gì? Bà Leidner có viết thư gửi cho chính mình?

Để giải đáp câu hỏi này, ta phải đi ngược thời gian rất xa... tới cuộc hôn nhân thứ nhất. Đây mới thực sự bắt đầu cuộc hành trình của chúng ta... hành trình vào cuộc đời bà Leidner.

Trước hết, ta chớ quên nàng Louise Leidner trong quá khứ vẫn là con người như hiện nay. Hồi đó, nàng còn trẻ, sắc đẹp tuyệt vời, cái sắc đẹp làm chao đảo trí óc và trái tim đàn ông, sắc đẹp đó mang tính ích kỷ.

Những phụ nữ như thế không thích nói đến hôn nhân. Họ có thể bị đàn ông hấp dẫn, nhưng không muốn thuộc riêng người nào. Tuy nhiên, bà Leidner lấy chồng... Chúng ta sẽ không sai nếu khẳng định chồng bà phải là người có tính cách mạnh mẽ.

Khi bà biết chồng hoạt động gián điệp cho nước ngoài, bà tố cáo với Chính phủ, theo như lời bà đã kể với cô Leatheran.

Tôi công nhận là quyết định này có một lý do tâm lý. Bà đã tâm sự với cô Leatheran rằng hồi đó bà làm vậy chỉ vì lòng nhiệt thành yêu nước. Nhưng thường thì người ta hay tìm cách bào chữa hành động của mình, và mặc nhiên gán cho nó những động cơ cao quí nhất. Bà Leidner cũng có thể tưởng mình chỉ nghe theo tình cảm yêu nước, trong khi thực ra, theo tôi, bà ta bị sai khiến bởi ý muốn gạt bỏ ông chồng! Bà căm ghét sự chế ngự của đàn ông, không chịu được tình cảnh chỉ thuộc vào một người, mình bị lui vào vị trí thứ yếu. Bà mượn cớ yêu nước để lấy lại tự do cho mình.

Nhưng trong sâu thẳm lòng mình, bà vẫn có chút hối hận, ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc đời về sau.

Giờ ta đến chuyện các lá thư. Bà Leidner làm nhiều anh đàn ông say đắm, và nhiều lần, bà cũng siêu lòng với họ... nhưng lần nào cũng có một thư đe dọa gửi tới, làm tiêu tan hy vọng.

Ai viết nhưng thư đó? Frederick Bosner, hay cậu em trai William, hay chính bà Leidner?

Giả thuyết nào cũng có thể đứng vững. Bà Leidner có vẻ thuộc loại phụ nữ có khả năng làm cho đàn ông mê say đến mức điên rồ. Tôi tin là có một Frederick Bosner coi Louise, vợ mình, là quan trọng nhất trên đời! Bà đã một lần tố cáo anh, anh không dám hiện diện trước mặt bà, nhưng anh đã thề là bà chỉ thuộc về mình, không của ai khác. Anh ta thà giết bà chứ không để bà đi với ai.

Mặt khác, bà Leidner không muốn ràng buộc mình vào sợi dây hôn nhân, thì lại có thể dùng hôn nhân để làm nản lòng những kẻ ngấp nghé. Vị nữ thần săn bắn này, khi đã đạt được con mồi, lại đẩy nó ra xa không thèm ngó ngàng. Bà ta làm sống lại ông chồng cũ, phản đối cuộc hôn phối mới, bao trùm lên mình một tấm màn bi kịch mà bà rất thú.

Tình hình ấy tồn tại trong nhiều năm. Mỗi lần có ai muốn kết hôn, lại có thư đe đoạ.

Bây giờ ta tới một giai đoạn lạ lùng. Giáo sư Leidner xuất hiện... và lần này không có thư nào chống lại việc Louise trở thành bà Leidner. Bà có nhận một thư, nhưng là sau khi kết hôn.

Lập tức, ta phải đặt câu hỏi: "Tại sao?"

Ta lần lượt nghiên cứu ba giả thuyết.

Nếu chính bà Leidner viết thư, thì vấn đề tự nó đã giải quyết: bà Leidner muốn lấy ông Leidner, và đã lấy. Thế thì tại sao sau đó bà lại viết thư? Bà thích ly kỳ hóa đến thế ư? Và tại sao chỉ có hai bức? Rồi trong một năm rưỡi sau, lại không nhận được gì.

Sang giả thuyết khác: nếu tác giả là Frederick Bosner (hoặc em trai hắn), tại sao lá thư đe dọa chỉ tới sau cuộc hôn nhân? Rõ ràng Frederick Bosner không tán thành Louise lấy ông Leidner, vậy tại sao hắn không ngăn trở bằng biện pháp có hiệu quả đã dùng khi trước? Tại sao đợi đến sau cuộc hôn nhân, hắn mới lại tiếp tục đe dọa?

Có thể Frederick Bosner, vì lý do nào đó, không thể phản đối sớm hơn, hoặc là hắn đang ở tù, hay đang ở nước ngoài? Cách giải trình ấy không thỏa đáng.

Lại xét đến âm mưu gây chết ngạt bằng khí đốt. Khó có thể quy tội cho người nào ở bên ngoài. Tôi cho việc này là do ông hoặc bà Leidner dàn cảnh. Nhưng ông Leidner chẳng có lý do gì để làm vậy, cho nên tôi đi đến kết luận vợ ông đã dựng nên màn kịch ấy.

Tại sao? Vẫn là vì thích ly kỳ hóa.

Sau đó, hai ông bà đi du lịch nước ngoài, và trong mười tám tháng họ sống hạnh phúc, không bị lời đe dọa nào quấy nhiễu. Họ mừng là đã đánh lạc hướng kẻ thù. Song giả thiết như thế là vô lý nhất là trong trường hợp vợ chồng Leidner.

Làm sao một trưởng đoàn khảo cổ có thể xóa dấu tích của mình được? Frederick Bosner chỉ cần liên hệ tới bất cứ bảo tàng nào ở Mỹ là biết địa chí chính xác của nhà bác học. Nếu hắn không đủ khả năng tài chính để trực tiếp đến quấy nhiễu hai vợ chồng, hắn vẫn có thể tiếp tục gửi thư nặc danh. Một người đam mê đến mức điên cuồng như thế không dễ bỏ cuộc nửa chừng.

Trái lại, phải hai năm sau ta mới lại nghe nói đến hắn; bà Leidner lại nhận được thư đe dọa.

Và tại sao những thư này lại bắt đầu tới?

Thật khó lý giải... Nếu bảo bà Leiđner lại tự viết cho mình nữa để gây sự chú ý về mình, thì quá đơn giản. Cái trò ấy kéo dài quá lâu, một người tinh tế như bà Leidner không bao giờ lặp lại.

Sau khi suy nghĩ, tôi thấy có ba cách lý giải:

1) Thư do bà Leidner viết;

2) Do Frederick Bosner (hay thằng em William Bosner);

3) Mới đầu, do bà Leidner hoặc Frederick, nhưng những thư sau cùng là thư giả, nghĩa là do một người thứ ba viết, người này biết là trước đó đã có những thư như thế.

Điều này dẫn ta đến việc phải xem xét những người ở quanh bà Leidner.

Người nào trong đoàn khảo cổ có khả năng thực tế để gây án?

Trước hết, không ai có khả năng ấy, trừ ba người.

Ông Leidner không thê gây án, vì theo những nhân chứng tin cậy, ông ở trên sân thượng suốt thời gian ấy. Ông Carey ở ngoài công trường. Ông Coleman đi Hassanich.

Song những bằng chứng ngoại phạm ấy không hẳn thuyết phục như ta nghĩ. Trừ trường hợp ông Leidner. Rõ ràng ông ở trên sân thượng, chỉ đi xuống, khoảng hơn một giờ sau khi vợ đã chết.

Nhưng ông Carey có thể rời công trường lắm chứ?

Và ông Coleman nữa, lúc vụ án xảy ra, ông có đang ở Hassanich thật không?

Bill Coleman đỏ mặt định mở miệng song lại thôi, ngơ ngác nhìn xung quanh. Ông Carey thì điềm nhiên, không thay đổi nét mặt.

Poirot bình thản nói tiếp:

- Tôi còn thấy một người nữa có thể gây án, tôi chắc như vậy, nếu người đó có một lý do đủ mạnh. Cô Reilly là người thông minh, táo bạo, cũng có một tính cách mạnh mẽ. Khi nói về vụ án, tôi có hỏi đùa cô rằng cô có bằng chứng ngoại phạm nào không... Lúc đó cô Reilly sực nhận ra là trong thâm tâm, cô cũng có ý muốn giết. Tuy nhiên, cô đã nói dối không cần thiết. Cô bảo chiều hôm đó cô chơi quần vợt ở câu lạc bộ. Nhưng hôm sau, khi nói chuyện với cô Johnson, tôi biết là lúc xảy ra vụ án, cô Reilly đang đi chơi ở loanh quanh khu nhà. Cho nên tôi nghĩ, nếu lương tâm cô Reilly trong sáng, không có gì phải giấu giếm, cô có thể cung cấp cho tôi nhiều tình tiết bổ ích.

Ngưng một lát, ông hỏi:

- Cô Reilly, cô có thể nói cô thấy những gì chiều hôm đó?

Cô Reilly không trả lời ngay. Cô vẫn nhìn ra ngoài cửa sổ, không quay đầu lại, nói giọng rành rọt, có cân nhắc:

- Sau bữa trưa, tôi đến khu khai quật lúc hai giờ kém mười lăm.

- Cô có gặp ai trong đoàn?

- Không. Chẳng có ai, ngoài tay đốc công Ả rập.

- Cả ông Carey cũng không?

- Không.

- Lạ nhỉ - Poirot nói - ông Verier khi cưỡi ngựa ra công trường chiều hôm ấy cũng không gặp ông ta.

Poirot đưa mắt nhìn Carey như yêu cầu ông giải thích, song ông này ngồi yên, không động đậy.

- Ông Carey, ông nói sao về chuyện này?

- Thấy phu đào lên không có gì mới, tôi đi dạo một vòng.

- Đi phía nào?

- Về phía bờ sông.

- Chứ không phải đi về nhà?

- Không.

- Hay ông đợi ai, mà người đó không tới? - cô Reilly hỏi.

Carey nhìn cô, không đáp.

Poirot không gặng nữa, tiếp tục hỏi cô gái:

- Cô còn trông thấy gì nữa?

- Có. Gần khu nhà, tôi thấy chiếc xe tải con của đoàn đậu trong lán. Tôi thấy lạ, thì trông thấy ông Coleman, vừa đi vừa cúi đầu như tìm vật gì dưới đất.

Coleman vụt kêu:

- Để tôi nói! Tôi...

Poirot giơ tay ngăn lại:

- Hãy khoan. Cô Reilly, cô có gọi hoặc hỏi gì ông ấy không?

- Không.

- Tại sao?

Cô gái thong thả đáp:

- Vì thỉnh thoảng ông ấy lại liếc nhìn quanh một cách khó chịu. Tôi liền quay ngựa, bỏ đi. Có lẽ ông ấy không trông thấy tôi. Tôi không đến gần, còn ông ấy chăm chú tìm kiếm.

Coleman chồm lên thanh minh:

- Xin nghe tôi nói. Tôi xin giải thích rõ, không có gì mờ ám cả. Hôm trước, tôi bỏ một cái ấn rất đẹp vào túi rồi quên không mang đến phòng cổ vật. Về sau mới thấy là nó đâu mất... có lẽ tôi đánh rơi chỗ nào. Để tránh rắc rối, tôi chưa nói với ai, để tìm đã. Tôi đi Hassanich, làm xong việc về thật sớm, đậu xe ở một chỗ ít ai nhìn thấy, rồi đi theo đường ra công trường tìm hơn tiếng đồng hồ. Vô ích! Tôi đành lên xe về nhà. Mọi người tưởng tôi ở Hassanich về.

- Và ông không nói lại với họ? - Poirot hỏi.

- Trong tình hình ấy, tôi thấy không nên nói gì.

- Lẽ ra ông nói thẳng ra có hơn không.

- Thôi, thôi, chuyện ấy thì có gì phải làm ra to. Tôi không hề bước vào sân. Đố ông tìm thấy nhân chứng nào nói rằng tôi vào sân.

- Vấn đề này cũng gây một số khó khăn đấy - Poirot nói - Theo bọn gia nhân, không ai vào sân. Nhưng suy nghĩ kỹ, lời khai ấy chưa đầy đủ. Họ cam đoan là không có người lạ nào vào. Người ta không hỏi rõ họ xem có thấy một nhân viên trong đoàn vào không.

- Thì bây giờ ông hỏi nữa đi - Coleman nói - Tôi cuộc với ông rằng chẳng đứa nào nhìn thấy tôi hoặc Carey.

- À điều này khó đấy. Thật vậy, nếu có người lạ tất họ sẽ để ý ngay, nhưng nếu là người trong đoàn, liệu họ có chú ý không? Vì nhân viên đi đi lại lại suốt ngày, ai quan tâm nữa. Vậy rất có thể ông Carey hoặc ông Coleman đi vào sân mà bọn gia nhân không buồn nhớ.

- Vớ vẩn!

Poirot vẫn điềm nhiên:

- Và trong hai người, ông Carey dễ vào sân mà không ai để ý nhất. Ông Coleman đi Hassanich bằng ôtô, khi về tất cũng phải bằng ôtô. Nếu ông đi chân, hẳn sẽ bị để ý.

- Đúng thế.

Richard Carey ngẩng đầu, giương đôi mắt xanh nhìn xoáy vào Poirot:

- Ông Poirot, ông quy kết tôi là người đã giết?

Bề ngoài Carey vẫn tỏ vẻ bình tĩnh, nhưng giọng nói có ý thách thức.

Poirot nghiêng mình:

- Lúc này, tôi đang mời mọi người dự một cuộc hành trình... hành trình tới sự thật. Đầu tiên, tôi muốn chứng minh một điều: tất cả các nhân viên trong đoàn, kể cả cô y tá Leatheran, đều có khả năng là thủ phạm. Tôi chưa tính đến chuyện xem ai là người bất khả nghi ngờ, vấn đề ấy để lại sau.

Tôi đã xét xem từng người có phương tiện và cơ hội ra tay hay không. Rồi đến động cơ. Kết luận, là ai cũng có đủ động cơ!

Tôi lập tức phản đối:

- Ô! Không. Tôi không, ông Poirot, tôi vừa mới đến nhận việc.

- Hừm! Đó không phải là điều bà Leidner e ngại sao? Một người lạ từ bên ngoài tới!

- Nhưng... tôi... Bác sĩ Reilly biết rõ tôi. Chính ông ấy giới thiệu tôi.

- Thực ra thì bác sĩ biết gì về cô? Cô nói thế nào ông ấy biết thế. Không phải không có trường hợp những tên lừa đảo giả danh y tá.

- Ông cứ viết thư hỏi bệnh viện Saint Christophe!

- Lúc này, tốt nhất là cô đừng nói gì. Tôi không thể tiếp tục thuyết trình nếu các vị ngắt lời tôi như thế. Tôi không nói là nghi ngờ cô, nhưng có gì chứng minh cô không phải là người khác. Khối đàn ông rất giỏi ngụy trang thành đàn bà. Biết đâu William Bosner không phải là kẻ như vậy!

Tôi định đốp chát lại ông một chập nữa. Hừm, tôi mà là đàn ông cải trang? Nhưng ông Poirot đã cao giọng tiếp tục bản thuyết trình, nên tôi đành im.

- Bây giờ tôi xin nói rất thẳng thắn... có phần sỗ sàng nữa! Tôi cần phải phơi ra ánh sáng tất cả mặt trái của nhà này!

Tôi đã nghiên cứu tâm hồn từng người. Bắt đầu từ ông Leidner. Tôi nhận ngay ra rằng tình yêu vợ là lẽ sống duy nhất của đời ông. Một người bị dằn vặt và đau khổ.

Còn cô Leatheran, như tôi vừa nói, nếu cô giả vai người khác thì quả là tài tình, song tất cả mọi thứ làm tôi tin rằng cô không là ai khác ngoài chính mình... một nữ y tá có khả năng.

- Cảm ơn ông có lời khen! - tôi nói.

- Rồi tôi chú ý đến ông và bà Mercado, vì cả hai có những dấu hiệu bồn chồn không yên. Trước hết tôi đặt câu hỏi: bà Mercado có thể gây án không và vì lý do gì?


Về Đầu Trang Go down
http://huyetnguyetlau.wordpress.com/
rin_snow

avatar

Nữ Libra
Tổng số bài gửi : 701
Birthday : 03/10/1995
Age : 22
Đến từ : thời đồ đá

Bài gửiTiêu đề: Re: Vụ Án Mạng Ở Vùng Mesopotamie - Agatha Christie   31/1/2014, 21:27

(tiếp)

Thoạt nhìn, bà Mercado có vẻ không đủ sức lực cần thiết để giáng cái thớt đá lên bà Leidner. Tuy nhiên nếu lúc đó bà Leidner đang ở tư thế quỳ thì về mặt thể chất là có thể. Bà Mercado có thể, bằng mưu mẹo nào đó, buộc một phụ nữ khác quỳ xuống. Ồ! Không phải bằng cách dùng tình cảm, mà ví dụ bằng cách nhờ người đó đính một cái ghim vào gấu váy của mình, và thế là người kia không nghi ngờ gì, quỳ xuống ngay.


Nhưng còn động cơ? Cô Leatheran đã nói bà Mercado nhìn bà Leidner bằng con mắt hận thù. Hiển nhiên là ông Mercado cũng hơi mê bà nữ chủ nhân xinh đẹp. Tuy nhiên tôi không tin có thể giải nghĩa việc này bằng lòng ghen tuông. Tôi cho là bà Leidner không để ý gì đặc biệt ông Mercado... và bà Mercado cũng biết vậy. Có thể bà căm ghét nhất thời, phải có một sự khiêu khích nghiêm trọng hơn nữa mới đẩy bà đến chỗ giết người. Bà Mercado yêu chồng bằng cả một tình yêu mẫu tử. Cứ xem cách bà ấy trìu mến nhìn chồng đủ thấy bà không chỉ yêu, mà còn quyết giữ lấy, bảo vệ chồng mình như báo mẹ bảo vệ báo con. Luôn luôn cảnh giác, bà lo lắng không phải cho mình, mà cho chồng. Quan sát kỹ ông Mercado, tôi đoán được điểm yếu của ông. Bằng một mẹo nhỏ, tôi chứng minh được dự đoán của mình. Ông Mercado dùng ma túy... ở mức độ khá nặng.


Khỏi phải nhắc rằng người sử dụng ma túy lâu, dần dần không có đủ sự tỉnh tảo tinh thần. Do ảnh hưởng ma túy, một người có thể có những hành động mà trước kia anh ta không bao giờ nghĩ tới. Có thể đi tới giết người, và rất khó nói là người đó có chịu trách nhiệm hay không. Về điểm này, luật pháp mỗi nước một khác.


Trong quá khứ của ông Mercado, liệu có một vụ tai tiếng nào thậm chí vụ án nào, mà vợ ông đã cố ý giấu khỏi tai mắt thiện hạ? Nếu để vỡ lỡ, sự nghiệp của ông sẽ đi đời! Vợ ông luôn cảnh giác giữ gìn, trông chừng bà Leidner. Bà này thông minh, ưa ra oai với mọi người, rất có thể chiếm được lòng tin của ông. Nếu bà Leidner nắm được bí mật đó, loan truyền với mọi người thì thích thú biết bao!


Vậy là ông và bà Mercado đều có một động cơ khả dĩ gây án. Để bảo vệ chồng mình, bà Mercado sẽ không chùn tay! Trong khoảng thời gian mười phút trong sân không có ai, họ có đủ điều kiện để hành động.


Bà Mercado kêu lên:


- Không đúng!


Ông Mercado vẫn nhìn Poirot như không có chuyện gì.


- Tôi nghiên cứu tiếp trường hợp cô Johnson. Cô ấy có phải là người có khả năng gây án?


Tôi trả lời: có. Như tất cả những ai có nghị lực làm chủ được mình, cô dồn nén được tình cảm, nhưng một ngày nào đó con đê sẽ vỡ! Nếu cô Johnson giết, thì lý do chỉ có thể liên quan đến ông Leidner. Nếu cô ấy cho là bà Leidner đã làm hỏng cuộc đời ông chồng, thì sự ghen tuông âm ỉ bấy lâu sẽ bùng lên và cô ấy cho là có lý do chính đáng để hành động.


Vâng, cô Johnson là một tội phạm tiềm tàng.


Ta sang ba chàng trai khác.


Trước tiên, Carl Reiter. Nếu William Bosner tình cờ trà trộn được vào đoàn khảo cổ, thì không ai khác là Reiter. Nếu vậy, hắn đóng kịch cực kỳ giỏi! Nhưng nếu anh ta chỉ là Carl Reiter, thì có lý do gì để anh ta thủ tiêu vợ thủ trưởng?


Dưới mắt bà Leidner, Carl Reiter là con mồi chinh phục quá dễ. Anh ta sẵn sàng quỳ gối trước bà. Sự ngưỡng mộ mù quáng và thái độ quy lụy của một người đàn ông bao giờ cũng đánh thức trong phụ nữ những bản năng hèn hạ nhất. Bà đã đối xử với chàng trai này một cách độc ác đã làm cho anh ta phải sống như trong địa ngục.


Poirot đột ngột ngừng lại, và nói với Reiter bằng giọng phủ dụ, tâm tình:


- Anh bạn trẻ, hãy nên lấy đó làm bài học. Anh là đàn ông: hãy xử sự như đàn ông! Đàn ông không nên quá hạ mình. Đàn ông và thiên nhiên có những phản ứng gần giống nhau. Nên nhớ, thà ném cái đĩa vào đầu phụ nữ, hơn là uốn éo lấy lòng một khi họ chỉ mới liếc mắt đưa tình với anh.


Bỏ giọng thân mật, ông trở lại bài diễn giảng:


- Carl Reiter có đau khổ đến mức muốn trả thù? Điều này, khó ai biết được, vì nỗi đau có khi ảnh hưởng đến đàn ông một cách lạ kỳ.


Bây giờ đến lượt Bill Coleman. Thái độ của anh ta, theo lời cô Reilly, cũng có chỗ đáng ngờ. Nếu anh ta là hung thủ, thì hóa ra bộ mặt vui nhộn của anh ta nhằm che giấu bộ mặt William Bosner. Tôi không tin Bill Coleman, với tư cách là Bill Coleman, có bộ dạng một tên giết người. Anh ta có thể có những khuyết điểm khác. Mà về vấn đề này, cô Leatheran có thể cho chúng ta biết một vài điều chăng?


Ông ta cứ như đọc được trong óc tôi! Mặc dù lúc đó chắc chắn vẻ mặt tôi không để lộ tình cảm gì. Tôi ngập ngừng nói:


- Ồ! Cũng chẳng có gì quan trọng. Tuy nhiên, nếu cần nói cho hết sự thật, một hôm ông Coleman khoe với tôi rằng ông có tài bắt chước chữ viết giỏi như một kẻ giả mạo chuyên nghiệp.


- Tốt - Poirot nói - Tóm lại, nếu nhìn thấy một lá thư nặc danh, anh ta có thể bắt chước chữ viết.


- Này, này, này! - Coleman kêu - Ông Poirot, ông đã đi quá giới hạn rồi đấy!


Nhà thám tử vẫn tiếp tục:


- Thật khó kiểm tra xem anh ta có phải là William Bosner hay không. Coleman đã nói đến một giám hộ... không phải là cha... không có gì ngăn ta coi Coleman là William Bosner.


- Nói láo! Sao ta lại phải ngồi nghe cái lão ăn nói huyên thuyên này.


- Trong ba chàng trai, còn lại ông Emmott. Anh ấy cũng có thể là William Bosner. Nếu anh có lý do để thủ tiêu bà Leidner, tôi hiểu ngay từ đầu là anh sẽ không nói gì. Anh giữ thái độ bình tĩnh điềm nhiên, và không để hở cơ hội nào cho tôi có thể buộc anh lộ tông tích. Trong tất cả các nhân viên của đoàn, David Emmott là người đánh giá khách quan nhất về bà Leidner. Song tôi không ước lượng được ảnh hưởng của bà Leidner đối với anh thế nào. Tôi cho rằng vì thái độ lạnh lùng của anh, bà Leidner không ưa anh lắm.


Trong số mọi người ở đây, xét về tính khí và khả năng, ông Emmott có vẻ là người có thể thực hiện một vụ án mạng bằng bàn tay bậc thầy.


Lần đầu tiên, ông Emmott rời mắt khỏi mũi giày.


- Xin cảm ơn - anh ta nói, ý vui đùa, thích thú.


- Hai người cuối cùng của danh sách là Richard Carey và cha Lavigny.


Theo lời kể của cô Leatheran và những người khác, ông Carey và bà Leidner không ưa nhau, chỉ quan hệ với nhau một cách xa xôi, lịch sự. Một người khác, cô Reilly, lại nói khác. Và về sau tôi thấy cô Reilly đúng hơn. Tôi liền tìm cách hỏi thẳng ông Carey. Và ông thú thật là rất căm ghét bà Leidner. Phải, ông căm ghét! Nhưng tại sao?


Lúc nãy, tôi đã nói đến những phụ nữ có sức quyến rũ tai hại. Nhưng đàn ông cũng có người có quyền năng ấy, chẳng cần cố gắng gì cũng có sức hấp dẫn đàn bà. Richard Carey là đàn ông như thế. Vốn rất tận tụy với ông Leidner, người vừa là thủ trưởng vừa là bạn, Carey tỏ ra dửng dưng với sức quyến rũ của bà Leidner, làm bà tự ái, tức tối, càng ra sức chinh phục trái tim chàng trai. Và đến đây xẩy ra sự việc bất ngờ: chính bà Leidner, lần đầu tiên trong đời, mắc vào bẫy của chính mình, và mê Carey thật sự.


Carey... không thể cưỡng. Và vì thế ta giải thích tại sao anh rất đau khổ và luôn căng thẳng. Con người đó bị giằng xé bởi hai luồng tình cảm trái ngược: vừa mê, vừa ghét Louise Leidner. Ghét vì bà ta đã làm anh phản bội bạn. Sự căm ghét của người đàn ông, mà số phận run rủi yêu một người đàn bà trái với ý mình mà không cưỡng lại được, là rất ghê gớm.


Lý do đó đã đủ chưa? Có lúc tôi đã tin là đủ. Richard Carey có lẽ đã rất muốn ra tay hạ thủ Louise Leidner.


Tôi luôn tin rằng vụ ám sát Louise Leidner là một vụ án tình. Và Carey là người lý tưởng nhất làm thủ phạm.


Còn lại người cuối cùng: cha Lavigny. Ông thầy tu tốt bụng này khiến tôi chú ý ngay, vì ông ta mô tả người nhòm qua cửa sổ khác hẳn với lời chứng của cô Leatheran. Thường thì các lời khai của các nhân chứng bao giờ cũng khác nhau chút ít, nhưng ở đây lại trái ngược hẳn. Cha Lavigny đặc biệt nhấn mạnh một khuyết tật rất dễ nhận của người đó, là mắt lé. Nhưng nếu cô Leathetan nói đúng, thì cha Lavigny sai. Có vẻ như ông ta cố tình đánh lạc hướng điều tra để bảo vệ người kia.


Trường hợp ấy, ắt ông ta phải biết hắn. Ta đã trông thấy ông ta nói chuyện với hắn, nhưng nói gì thì ta chỉ biết qua lời ông nói lại.


Người Irắc ấy định làm gì khi bị cô Leatheran và bà Leidner bắt gặp? Hắn định nhòm qua cửa sổ. Hai bà phụ nữ tưởng là cửa sổ bà Leidner, nhưng khi tôi đứng ở chỗ họ để nhìn lại, thì có thể là cửa sổ phòng cổ vật.


Đêm hôm sau, có báo động. Có người nào đó ở trong phòng cổ vật. Nhưng xem ra không mất thứ gì. Khi giáo sư Leidner chạy tới, ông thấy cha Lavigny đã có mặt, ông này đã nhìn thấy ánh đèn, nhưng lần này nữa, cũng chỉ là lời ông nói.


Cha Lavigny bắt đầu làm tôi thấy lạ. Hôm trước khi tôi thử đưa ra giả thuyết cha Lavigny có thể là Frederick Bosner, thì giáo sư Leidner lớn tiếng phản đối. Giáo sư nói cha Lavigny là một nhà khoa học có tiếng. Song Frederick Bosner có cả hai mươi năm trước mặt để gây dựng lại sự nghiệp dưới tên khác, rất có thể là nhà khoa học ấy chứ? Tuy nhiên, khó có thể tin rằng suốt thời gian đó Bosner lại giam mình trong một tu viện. Một lời giải đơn giản hơn xuất hiện trong óc tôi.


Có người nào trong đoàn biết mặt cha Lavigny trước khi ông ta đến nhận việc ở đây? Không, phải không nào? Vậy thì, biết đâu ông ta chẳng là một người khác, mượn danh cha? Tôi phát hiện là có một bức điện gửi đi Carthage; giáo sư Byrd lẽ ra sẽ tham gia công tác với đoàn, song đột nhiên ốm nặng. Nhận chặn một bức điện, không khó. Còn về công việc, cha Lavigny là người nghiên cứu chữ cổ duy nhất của đoàn. Với chút hiểu biết đại khái, một người láu lỉnh có thể đánh lừa mọi người. Sự thực là đến nay, số thư tịch cổ đào được rất ít, và hình như những bản giải mã của ông thầy tu không lấy gì làm xuất sắc.


Do đó, chẳng bao lâu tôi tin rằng cha Lavigny là một kẻ giả danh.


Nhưng ông ta có phải là Frederick Bosner?


Điều này tôi còn nghi ngờ. Phải tìm sự thật ở hướng khác.


Tôi đã nói chuyện lâu với cha Lavigny. Vốn là người công giáo hành đạo, tôi quen biết khá nhiều linh mục và nhân vật của các giáo đoàn. Cha Lavigny có vẻ không thông thạo lắm với tư cách linh mục. Nhưng tính cách ông lại quen thuộc với tôi vì những lý do khác. Tôi thường giao tiếp với những người thuộc kiểu ông ta, mà những người loại này không hề dính dáng tới Nhà thờ... Hoàn toàn khác hẳn!


Tôi phải đi đánh điện này đến điện khác khắp nơi.


Và cô Leatheran đã cung cấp cho tôi một thông tin quý giá mà chính cô không biết. Chúng tôi đang ngắm những đồ trang sức bằng vàng trong phòng cổ vật, thì cô nhận thấy một vết sáp trên một cái bình. Tôi nói: Sáp à? và cha Lavigny nhắc lại: "Sáp à?". Nghe giọng nói, tôi hiểu ngay. Trong nháy mắt, tôi biết ông ta đến đây nhằm mục đích gì.


Poirot ngừng lại, rồi nói với ông Leidner:


- Tôi rất tiếc phải báo ông biết, chiếc bình vàng, con dao găm vàng, và tất cả những vật quý khác để trong phòng cổ vật không phải là những mẫu chính thực mà các ông đào được, mà chỉ là những bản sao khéo bằng phương pháp điện phân. Bức điện tôi vừa nhận đây cho biết cha Lavigny chính là Raoul Menier, một tên lừa đảo có hạng bị cảnh sát Pháp truy lùng. Hắn chuyên lấy cắp cổ vật và cấu kết với Ali Yassouf, một tên Thổ lai, thợ kim hoàn rất giỏi. Chúng tôi đã biết Menier trong vụ khám phá đồ giả ở bảo tàng Louvre. Mỗi lần chúng đánh tráo đồ giả vào, người ta nhớ ra là hôm trước có những người xưng là nhà khảo cổ có tiếng xin được vào nghiên cứu những vật ấy. Sau hỏi ra thì chẳng có nhà khảo cổ nào có tên nói trên đến thăm bảo tàng Louvre cả.


Tôi được biết Menier chuẩn bị một vụ ăn cắp ở tu viện Tunis thì có điện ở đây gửi tới. Cha Lavigny yếu mệt, không thể nhận lời mời đến cộng tác với ông, nhưng Menier biết có bức điện đó, đã tìm cách thay thế bằng điện nhận lời. Hắn dám mạo hiểm, vì cho là có ít nguy cơ bị phát giác. Giả thử tu viện có đọc báo đưa tin cha Lavigny tới Irắc (thực ra chưa chắc báo đưa tin), họ sẽ cho là báo đăng sai, điều thường xảy ra.


Menier và một đồng bọn tới. Tên sau này, ta bắt gặp lần đầu bên ngoài phòng cổ vật. Nhiệm vụ của cha Lavigny là lấy dấu khuôn bằng sáp, theo đó Ali sẽ làm những bản sao y hệt. Những người sưu tập đồ cổ sẵn lòng trả giá cao, mua các đồ cổ đích thực, không cần hỏi han rắc rối.


Cha Lavigny đem đồ giả vào tráo lấy đồ thật, thường làm về đêm.


Đó là việc hắn ta đang làm cái đêm bà Leidner nghe tiếng động, và la lên. Hắn liền biến báo, nói thác là đã vào vì thấy trong phòng cổ vật có ánh sáng.


Nghe có vẻ xuôi. Nhưng bà Leidner không mắc lừa. Bà nhớ là đã nhìn vết sáp, từ đó đoán ra.


Vậy bà sẽ làm gì? Phải chăng tính cách của bà là chỉ nói xa xôi để xem cha Lavigny đối phó thế nào? Bà sẽ nói bóng gió cho ông ta hiểu là mình nghi ngờ... nhưng không nói thẳng là mình đã biết. Đó là một trò chơi nguy hiểm, nhưng bà thích thế.


Song có thể bà đã đi hơi quá xa. Cha Lavigny đoán biết nên đã ra tay giết bà.


Cha Lavigny giả mạo là Raoul Menier... một tên ăn cắp. Hắn có phải là kẻ giết người?


Poirot đi đi lại lại trong phòng, ông rút mùi xoa trong túi lau trán trước khi tiếp tục:


- Tới sáng nay, đó là những gì tôi đã tìm ra. Tôi tính tới những người có khả năng là thủ phạm, nhưng ai là người chính xác?


Nhưng giết người trở thành thói quen. Ai đã giết một lần, sẽ giết lần thứ hai.


Và vụ giết thứ hai đã làm kẻ sát nhân lộ mặt.


Tôi luôn nghĩ rằng có một ai đó trong các vị ở đây giấu tôi... không cho tôi biết về thủ phạm.


Người đó chịu mạo hiểm lớn.


Tôi rất chú ý bảo vệ cô Leatheran. Cô có trí óc sắc sảo quan sát tốt, chỉ sợ cô biết quá một chút là sẽ nguy hại đến bản thân.


Như mọi người đã thấy, một vụ thứ hai xảy ra. Nạn nhân không phải cô Leatheran, mà là cô Johnson.


Tôi vẫn thích tự mình suy luận mà tìm ra lời giải, song phải nói rằng chính vụ án thứ hai đã giúp tôi giải quyết vấn đề nhanh hơn.


Trước hết, một người khả nghi được xóa khỏi danh sách: đó là bản thân cô Johnson... vì tôi không hề tin đây là một vụ tự vẫn.


Bây giờ ra xem xét các sự việc liên quan đến cái chết bi thảm của cô Johnson.


Thứ nhất: tối chủ nhật, cô Leatheran thấy cô Johnson khóc lóc, rồi đêm hôm đó lại đốt mẩu thư mà cô y tá cho là cùng một chữ viết với những thư nặc danh.


Thứ hai: buổi tối trước hôm cô chết cô Leatheran bắt gặp cô Johnson đứng trên sân thượng trong một trạng thái mà cô Leatheran mô tả là "kinh hoàng khôn xiết". Cô Leatheran hỏi, thì cô trả lời: "Tôi đã biết người ta đi từ bên ngoài vào thế nào mà không ai biết". Cô chỉ nói vậy. Lúc đó cha Lavigny đang đi qua sân, ông Reiter đứng trước cửa phòng ảnh.


Thứ ba: trước khi thở hơi cuối cùng, cô Johnson chỉ nói được ba từ: cửa sổ... cái cửa sổ...


Sự việc là như vậy, và ta phải giải đáp những câu hỏi sau:


- Ai đã viết các thư?


- Cô Johnson đã trông thấy gì từ trên sân thượng?


- Cô muốn nói gì khi thốt lên "Cái cửa sổ... cái cửa sổ”?


E hèm! Hãy xét câu hỏi thứ hai, vì nó đơn giản nhất. Tôi đã cùng cô Leatheran trèo lên sân thượng, đứng ở đúng chỗ cô Johnson đứng. Từ đó, cô nhìn thấy sân, cổng vòm, mặt bắc của khu nhà và hai người làm việc trong đoàn. Những lời của cô ám chỉ ông Reiter hoặc cha Lavigny đây chăng?


Lập tức, một cách giải thích hợp lý nảy ra trong óc tôi. Nếu một người lạ từ ngoài vào được đây tất phải cải trang thành người quen. Và chỉ có một người mà trang phục dễ bắt chước nhất: cha Lavigny! Đội mũ thuộc địa, đeo kính đen che mặt, bộ râu đen và chiếc áo trùng thâm, một người lạ có thể qua cổng đi vào sân mà không gây sự chú ý của bọn gia nhân.


Có phải cô Johnson muốn nói điều đó? Hay là, đi xa hơn, cô còn đoán được rằng cha Lavigny chỉ là một kẻ giả danh đội lốt thầy tu?


Với tất cả những gì đã biết về cha Lavigny, tôi đã cho Raoul Menier là hung thủ. Hắn giết bà Leidner để bà không lộ chuyện. Tiếp đó, một người nữa có vẻ như đã biết bí mật của hắn, người đó phải bị thủ tiêu.


Thế là mọi việc ăn khớp! Vụ giết thứ hai, cha Lavigny bỏ trốn không mang theo áo thầy tu (hắn và tên đồng phạm có hộ chiếu hợp pháp, ghi là thương nhân đi sang Syria), và tìm thấy cái thớt cối xay vấy máu dưới giường cô Johnson.


Như đã nói, tôi gần như thỏa mãn... song đã giải đáp thì phải giải đáp tất cả... mà tôi thấy vẫn chưa có giải đáp được hết.


Ví dụ, chưa giải thích được lời cô Johnson: Cái cửa sổ, cái cửa sổ. Cũng như việc cô khóc lóc, và thái độ lạ lùng của cô trên sân thượng, không chịu nói cho cô Leatheran những gì cô biết hoặc nghi ngờ.


Cách giải đáp nói trên chỉ phù hợp với những hiện tượng bề ngoài, mà gạt sang một bên vấn đề tâm lý.


Và trong khi đứng trên sân thượng, tôi nghiền ngẫm ba điểm: thư, sân thượng, cửa sổ, và đã thấy như cô Johnson đã thấy!


Và lần này mọi việc hoàn toàn sáng rõ.
Về Đầu Trang Go down
http://huyetnguyetlau.wordpress.com/
rin_snow

avatar

Nữ Libra
Tổng số bài gửi : 701
Birthday : 03/10/1995
Age : 22
Đến từ : thời đồ đá

Bài gửiTiêu đề: Re: Vụ Án Mạng Ở Vùng Mesopotamie - Agatha Christie   31/1/2014, 21:29

CHƯƠNG 28
ĐIỂM KẾT THÚC CUỘC HÀNH TRÌNH

Poirot nhìn quanh một lượt. Mọi con mắt dồn về nhà thám tử bé nhỏ người Bỉ. Trong cử tọa có một thoáng thư giãn. Nhưng rồi sự căng thẳng trở lại, ai nấy chờ đợi lời giải cuối cùng.


Giọng Poirot vẫn đều, đơn điệu:


- Thư, sân thượng, cửa sổ… Vâng, mọi việc sáng rõ, đâu vào đấy.


Lúc nãy tôi nói có ba người có bằng chứng ngoại phạm lúc án mạng xảy ra. Tôi đã chứng minh hai trong số ba bằng chứng ấy là chưa thuyết phục. Giờ, tôi nhận là mình sai... Cái bằng chứng thứ ba cũng không giá trị gì hơn. Không những giáo sư Leidner có thể đã giết vợ, mà tôi còn tin chắc là như vậv.


Cả phòng yên lặng một cách lạ lùng. Giáo sư Leidner không lên tiếng, ông có vẻ như chìm đắm vào một thế giới xa xăm. Tuy nhiên, David Emmott cựa quậy, vẻ khó chịu, cất tiếng:


- Ông nói gì lạ, ông Poirot? Tôi chẳng bảo là giáo sư không rời sân thượng cho đến ba giờ kém mười lăm? Tôi nói lại: đó là sự thật hoàn toàn. Xin thề không nói sai! Nếu không, tôi phải trông thấy ông ấy đi xuống chứ?


Poirot nghiêng mình:


- Tôi hoàn toàn tin lời ông. Giáo sư Leidner không rời sân thượng: chuyện đó là rõ. Nhưng tôi hiểu, và cô Johnson đã đoán ra, là: giáo sư Leidner có thể giết vợ mà không rời sân thượng!


Tất cả chúng tôi đều trố mắt.


Bà Leidner! Và tôi hiểu... như cô Johnson đã hiểu. Cửa sổ phòng bà Leidner ở ngay bên dưới, không phải bên phía sân, mà bên phía trông ra ngoài. Và giáo sư Leidner đã phục sẵn trên sân thượng một mình không có ai. Các cối đá đặt sẵn trên đó, trong tầm tay... Mọi việc thật đơn giản… với điều kiện kẻ sát nhân có thời gian di chuyển xác nạn nhân, trước khi mọi người biết... Ôi! Thật hoàn hảo... mà đơn giản không thể ngờ!


- Xin chú ý nghe... vụ giết người đã tiến hành như sau:


Giáo sư Leidner làm việc kiểm kê, sắp xếp các đồ gốm trên sân thượng. Ông ta gọi ông, ông Emmott, và trong khi trao đổi với ông, nhận thấy thằng bồi thường lợi dụng lúc ông đi lên để bỏ việc, chạy ra cổng. Ông Leidner giữ ông lại chừng mười phút, rồi ông xuống. Ông xuống, đang gọi thằng bé, thì ông Leidner thực thi kế hoạch đã định.


Ông rút trong túi chiếc mặt nạ chất dẻo từng dùng để dọa vợ, lao nó qua lan can để cho nó lủng lẳng trước cửa sổ của vợ.


Cửa sổ này, xin nhớ là mở ra bên ngoài đồng ruộng, chứ không nhìn ra sân.


Bà Leidner nằm trên giường, thiu thiu ngủ. Đột nhiên chiếc mặt nạ đập vào cửa sổ, làm bà chú ý. Nhưng lúc đó là ban ngày, trời không tối, nên bà không sợ. Bà cho là có ai giở trò đùa vớ vẩn. Như bất kỳ ai trong trường hợp ấy, bà bực mình chồm dậy, mở cửa sổ, thò đầu ra ngoài, nhìn ngước lên sân thượng để xem ai.


Giáo sư chỉ chờ có thế. Trong tay ông đã cầm sẵn chiếc cối nặng, thả đúng lúc thích hợp.


Bà kêu một tiếng khẽ (mà cô Johnson nghe thấy), gục xuống tấm thảm da dê đặt trước cửa sổ.


Ông Leidner đã luồn một sợi thông qua lỗ cối, ông chỉ việc kéo nó lên, đặt vào chỗ cũ, chú ý để mặt cối vấy máu xuống dưới.


Ông tiếp tục làm việc khoảng một tiếng nữa, cho đến khi ông thấy cần phải làm động tác thứ hai. Ông xuống thang, nói vài câu với ông Emmott và cô Leatheran, đi qua sân, vào phòng vợ. Và đây là những việc ông làm trong phòng, theo chính lời ông nói:


Tôi thấy xác vợ tôi gục dưới chân giường. Trong một lát tôi đứng tê liệt, không động đậy. Tôi quỳ xuống bên nàng, nâng đầu nàng lên. Nàng đã chết… Cuối cùng, tôi đứng lên… Tôi lảo đảo người như say rượu. Tôi ra đến cửa và hô hoán.


Lời kể rất hợp lý của một người đau khổ đến cùng cực. Bây giờ tôi xin nói sự thật như thế nào. Giáo sư bước vào phòng, chạy tới cửa sổ, cẩn thận đeo găng tay và đóng cửa sổ lại, rồi kéo xác vợ đặt giữa giường và cửa ra vào. Ông nhận thấy có vết máu nhẹ trên tấm da dê cạnh cửa sổ. Không thể láy tấm thảm thứ hai thay được vì hai tấm kích thước khác nhau, ông làm cách khác: lấy tấm da có máu đặt trước bàn rửa mặt, và tấm của bàn rửa mặt chuyển ra cạnh cửa sổ. Ai thấy vết máu sẽ nghĩ đến bàn rửa mặt, chứ không nghĩ tới cửa sổ... điểm này rất quan trọng. Bằng mọi cách, không để ai ngờ là cái cửa sổ đã đóng vai trò chủ yếu trong thảm họa. Rồi ông ra cửa, đóng vai người chồng thương khóc vợ, điều này dễ thôi, vì ông yêu vợ thật.


Bác sĩ Reilly sốt ruột, lúc này mới hỏi:


- Thưa ông Poirot, nếu yêu vợ, sao ông ấy lại bức hại vợ? Vì lý do gì? Nào! Leidner, ông tự bào chữa đi! Nói với thám tử rằng ông ta điên.


Giáo sư Leidner không đáp, ngồi yên như tượng.


Poirot tiếp:


- Thì tôi đã nói ngay từ đầu đây là một vụ án tình! Tại sao người chồng trước của bà Leidner dọa giết bà? Vì hắn ta yêu bà... và các vị thấy đấy, hắn đã giữ lời hứa...


Phải, phải... Ngay khi hiểu giáo sư Leidner là hung thủ, thì mọi thứ được sắp xếp đúng vào chỗ của nó...


Một lần nữa, ta lại trở lại khái niêm cuộc hành trình... Cuộc hôn nhân thứ nhất của bà Leidner, những thư đe dọa, cuộc hôn nhân thứ hai. Thư đe dọa ngăn cản bà không được lấy người khác, nhưng khi bà lấy giáo sư Leidner thì không ai quấy rối. Thật đơn giản... nếu giáo sư Leidner chính là Frederick Bosner.


Ta hãy đi lại cuộc hành trình... nhưng lần này cùng với Frederick Bosner.


Trước hết, hắn yêu Louise bằng một tình yêu cháy bỏng. Nhưng nàng tố cáo hắn là gián điệp. Bị án tử hình, nhưng hắn trốn thoát. Người ta tưởng nhầm hắn đã chết trong tai nạn xe lửa, nên hắn xuất hiện lại với lai lịch mới, trở thành Eric Leidner, nhà khảo cổ trẻ tuổi người Thụy Điển. Giáo sư Leidner chính cống mới là người bị nạn thật, mặt mũi bị nát, được chôn cất dưới cái tên Frederick Bosner.


Thái độ của chàng Eric Leidner mới này với người vợ đã không ngần ngại tố cáo hắn, ra sao?


Trước hết, đây là điểm chủ yếu, hắn vẫn yêu, và cố gắng để làm lại cuộc đời mới. Hắn thông minh có thừa, học nghề gì cũng được, và đã thành công. Nhưng hắn không quên mối tình say đắm nhất đời hắn. Hắn theo dõi mọi hành động, cử chỉ của vợ. Hắn đã quyết, bằng quyết tâm không gì lay chuyển (hãy nhớ lời tâm sự của bà Leidner với cô Leatheran: Anh ấy tốt và hiền, nhưng thô bạo): không để nàng lọt vào tay người khác! Mỗi lần thấy cần thiết, hắn lại gửi một lá thư. Hắn còn cẩn thận bắt chước một số đặc điểm chữ viết của vợ, phòng trường hợp bà trình cảnh sát. Nhiều phụ nữ thường hay tự gửi thư nặc danh cho mình, nên cảnh sát dễ cho bà Leidner là tác giả, khi so chữ.


Cuối cùng, sau nhiều năm dài, hắn thấy đã đến lúc phải ra tay: xuất hiện lại trong cuộc đời của Leidner. Mọi việc diễn ra suôn sẻ, vợ hắn không nghi ngờ gì về lai lịch thật của hắn. Giờ đây hắn đã nổi danh, chàng thanh niên đẹp trai nay là một người đứng tuổi và để râu. Và lịch sử lặp lại. Như trước đây, Frederick vẫn có uy thế lớn với Louise. Lần thứ hai, nàng đồng ý lấy hắn... và không có thư nào gửi đến ngăn trở.


Nhưng rồi sau đó nàng lại nhận một thư. Tại sao?


Có gì đâu, giáo sư Leidner muốn tránh nguy cơ lộ mặt. Sống gần gũi bên nhau dễ gợi nhớ những kỷ niệm. Ông ta muốn vợ khẳng định rằng Eric Leidner và Frederick Bosner rõ rệt là hai người khác nhau. Thì vẫn có thư của Frederick gửi đó thôi. Rồi đến cái trò trẻ con giả suýt bị ngạt vì khí đốt... do ông Leidner tạo ra... cũng nhằm ý đồ ấy.


Tiếp đó, thấy vậy là đủ, ông không gửi tiếp thư khác. Cuộc hôn nhân của họ từ nay có thể êm đềm trôi đi trong hạnh phúc.


Rồi, khoảng hai năm sau, các bức thư lại xuất hiện.


Vì sao? Tôi đoán được lý do. Vì những lời đe dọa chứa trong các bức thư không phải là chuyện chơi. (Cho nên ta thấy bà Leidner luôn phấp phỏng lo sợ - bà biết tính hiền, nhưng cục và tàn bạo của Frederick của bà mà có thể bà đã nghi chính là Leidner, nhưng chưa dám nói ra. Nếu nàng về tay một người khác, hắn sẽ giết. Mà nàng chẳng phải là người tình của Richard Carey đó sao?


Phát hiện ra sự không chung thuỷ của vợ, giáo sư Leidner bình tĩnh, lạnh lùng tính đến việc giết vợ.


Bây giờ các vị đã hiểu vai trò quan trọng của cô Leatheran như thế nào chưa? Mới đầu tôi thấy lạ là ông Leidner có ý kỳ cục mượn một cô y tá để trông nom bà vợ. Điều cốt yếu là cần một nhân chứng có chuyên môn tin cậy để xác nhận không chối cãi rằng bà Leidner đã chết được hơn một tiếng, khi phát hiện ra xác. Nói cách khác, bà bị giết trong lúc ai cũng thấy là ông đang làm việc trên sân thượng. Người ta có thể nghi là lúc ông vào phòng và nói là thấy xác chết, chính là lúc ông giết bà... Nhưng sẽ không ai nghi ngờ nếu một cô y tá có bằng cấp khẳng định rằng bà Leidner chết từ một giờ trước đó.


Bây giờ tôi hiểu tại sao có bầu không khí căng thẳng, ngượng ngập bao trùm các thành viên của đoàn. Tôi không hề tin là chỉ vì ảnh hưởng của bà Leidner. Theo tôi, tinh thần, tâm trạng của một tập thể bao giờ cũng trực tiếp phụ thuộc vào uy tín, bản lĩnh của người cầm đầu. Giáo sư Leidner, ngoài sự hiền hậu, có một cá tính mạnh mẽ. Nhờ sự khéo léo, tế nhị, cung cách chỉ huy của ông, không khí trong đoàn từ trước tới nay vẫn thân ái, vui vẻ.


Vậy nếu có sự thay đổi, thì lỗi ấy là do người chỉ huy, tức giáo sư Leidner. Ông Leidner, chứ không phải bà, chịu trách nhiệm về sự mất ổn định ấy. Nhân viên của đoàn chịu sự tác động của tình hình ấy mà không thể hiểu lý do. Ông Leidner, bề ngoài vẫn hiền từ, dễ mến, song thực ra chỉ là đóng kịch. Bên trong là một kẻ cuồng si nhăm nhăm tính kế giết vợ.


Giờ ta sang đến vụ thứ hai, mà cô Johnson là nạn nhân. Khi sắp xếp giấy tờ trong phòng giáo sư Leidner (cô thường làm việc này trong lúc rỗi rãi) hẳn cô đã tình cờ thấy bản nháp của một thư nặc danh viết dở.


Cô bàng hoàng đến cực điểm. Vậy là giáo sư Leidner là người đã viết thư khủng bố tinh thần chính vợ mình! Cô không thể tin... Đúng lúc sững sờ như thế thì cô Leatheran vào và bắt gặp: cô đang đầm đìa nước mắt.


Lúc đó, chắc cô cũng chưa nghĩ là giáo sư Leidner giết vợ, song những thí nghiệm mà tôi làm trong phòng bà Leidner và cha Lavigny không hẳn là không có ích với cô. Cô hiểu ra là, sở dĩ cô nghe thấy tiếng kêu của bà Leidner, là vì cửa sổ phòng bà để mở. Cô chưa để ý đến tầm quan trọng của chi tiết này, nhưng rồi sẽ nhớ ra. Cô tiếp tục suy nghĩ... để đi tìm sự thật. Cớ thể cô đã nói bóng gió về các thư với ông Leidner, ông này hiểu, hoảng sợ và thay đổi thái độ với cô.


Nhưng người giết bà Leidner không thể là giáo sư ông ở trên sân thượng kia mà!


Và rồi cái hôm cô đứng một mình trên đó để ngẫm nghĩ, sự thật bỗng lóe lên trong óc: bà Leidner bị hại từ trên sân thượng, qua cửa sổ mở.


Đúng lúc ấy, cô Leatheran tới. Lập tức, cô Johnson lại hành động như một người quý trọng, trung thành với thủ trưởng. Phải bảo vệ thủ trưởng không để cô y tá đoán biết những gì cô vừa phát hiện. Cô liền nhìn về phía ngược lại (nhìn ra sân), nói một câu bất chợt, nhận thấy cha Lavigny đi ngang qua sân. Cô không chịu cho biết gì hơn, nói là cần suy nghĩ đã.


Và giáo sư Leidner, vẫn không ngừng lo lắng dò xét, nhận ra là cô đã biết sự thật. Chẳng bao lâu cô sẽ nói lên nỗi kinh hoàng âu lo của mình. Đành rằng đến lúc này, cô chưa tố cáo ông... nhưng liệu có thể tin vào sự im lặng của cô đến bao giờ?


Giết người trở thành thói quen. Đêm ấy, ông đánh tráo cốc axít thay cốc nước của cô Johnson, hy vọng làm cho mọi người tin là cô tự vẫn. Có thể người ta còn kết tội cô là đã giết bà Leidner, nay kết liễu đời mình do hối hận. Để tăng thêm chứng cớ buộc tội cô, ông lấy cái thớt cối xay đặt dưới giường cô Johnson.


Cho nên không lấy làm lạ, lúc hấp hối, cô đã cố nói lên những gì cô đã phát hiện và phải trả giá bằng cả tính mệnh: cái cửa sổ qua đó bà Leidner bị ám sát.


Mọi việc đã được giải thích... mọi thứ đã tìm đúng chỗ của nó. Về mặt tâm lý mà nói, đây là một vụ án hoàn hảo.


Nhưng ta không có chứng cớ...


Không ai động đậy. Tất cả đều kinh hoàng. Không chỉ kinh hoàng… còn có cả sự thương hại.


Giáo sư Leidner, vẻ già xọm, mệt mỏi, không cử động, không nói một lời. Mãi rồi ông mới nhìn Poirot bằng đôi mắt lờ đờ và nói:


- Đúng, đến giờ ông không đưa được ra bằng chứng cụ thể. Song không sao, ông thừa biết là tôi sẽ không chối cãi. Tôi không bao giờ lùi bước trước sự thật. Có lẽ... tôi lại thấy cất được gánh nặng... Tôi mệt...


Rồi nói thêm:


- Tôi tự trách là đã giết Anne Johnson. Một tội ác ngớ ngẩn và vô lý, nhưng tôi không làm chủ được mình nữa! Tội nghiệp, tôi đã làm cô đau đớn! Tôi không còn là tôi... chỉ vì sợ hãi quá hóa mù quáng.


Nụ cười gượng gạo thoáng trên cái miệng méo xệch vì đau khổ:


- Ông Poirot, ông có thể trở thành một nhà khảo cổ kiệt xuất. Ông phục hiện quá khứ rất tài.


- Hờ... Tôi đã cố gắng hết sức mình.


- Tôi đã yêu Louise và đã giết nàng... Nếu ông biết rõ nàng, ông sẽ hiểu tôi... Mà có lẽ, ông đã hiểu tôi rồi.
Về Đầu Trang Go down
http://huyetnguyetlau.wordpress.com/
rin_snow

avatar

Nữ Libra
Tổng số bài gửi : 701
Birthday : 03/10/1995
Age : 22
Đến từ : thời đồ đá

Bài gửiTiêu đề: Re: Vụ Án Mạng Ở Vùng Mesopotamie - Agatha Christie   31/1/2014, 21:30

Vụ Án Mạng Ở Vùng Mesopotamie

ĐOẠN CUỐI


Giờ không còn gì nhiều để nói về thảm kịch này nữa.


Cha Lavigny và tên tòng phạm đã bị bắt giữ tại Beyrouth lúc chúng lên tàu biển chạy trốn.


Sheila Reilly lấy cậu Emmott. Cô gái lắm mồm ấy cần có người chồng ấy. Cậu ta không đụt, chắc chắn trị được cô. Chứ nếu lấy Bill Coleman thì khổ cho anh chàng này.


Nhân tiện, tôi có dịp chăm sóc Bill khi anh mổ ruột thừa, và thấy mến anh ta. Sau đó anh ta sang Nam Phi để trông coi trang trại của gia đình.


Tôi không trở lại Trung Đông nữa. Thật lạ kỳ, đôi lúc tôi thấy nhớ, hình dung nghe tiếng guồng nước cót két, thấy các bà giặt giũ bên bờ sông Tigre, đôi mắt lờ đờ của các chú lạc đà... Xét cho cùng, ở đó cũng không đến nỗi bẩn thỉu như mọi người nghĩ!


Bác sĩ Reilly mỗi lần đến Anh, thường lại thăm tôi. Như tôi kể ở đầu, chính ông gián tiếp là tác giả thiên truyện này. "Tùy ông đấy - tôi nói - được thì dùng, không thì bỏ, tôi biết nó nhiều lỗi văn phạm, lời văn chẳng hay hớm gì, vậy ông hãy đọc xem".


Ông cầm bản thảo mang đi. Vạn nhất nó được xuất bản, tôi sẽ là người đầu tiên ngạc nhiên.


Ông Poirot quay về Syria, rồi trở về nước Anh bằng tàu hỏa. Hồi đó, ông còn phá một vụ án hình sự rắm rối khác. Công nhận là ông tài, nhưng tôi vẫn chưa tha thứ ông về tội đã đem tôi làm trò chế nhạo. Ai đời dám nghi tôi đã giết bà Leldner, lại còn nghi ngờ tư cách y tá của tôi nữa! Ngay cả các bác sĩ có tiếng cũng không bao giờ dám ngạo mạn với tôi như thế.


Thỉnh thoảng, tôi lại nghĩ đến bà Leidner, không biết nên coi bà là người thế nào... Lúc tôi nghĩ bà là một phụ nữ ghê gớm, đáng sợ, lúc tôi lại nhớ đến thái độ thân ái của bà với tôi, giọng nói bà êm ái... tóc bà vàng óng... và tôi lại thấy thương cảm...


Dù không muốn, tôi vẫn thấy thương thay cho số phận của giáo sư Leidner. Đành rằng ông đã giết hai mạng, nhưng tôi liệu có quyền phán xử? Ông yêu vợ bằng một tình yêu mê đắm. Đáng sợ thay một tình yêu như thế!


Càng có tuổi, càng gặp nhiều người ốm đau, buồn nản, tôi càng trở nên khoan dung với đồng loại. Tôi không câu nệ với những nguyên tắc cứng nhắc đã được giáo dục từ trước nữa...


Lạy Trời! Đã đặt bút viết, là cứ lan man không biết bao giờ dừng. Làm thế nào để kết bằng một lời tốt đẹp?


Tôi sẽ hỏi bác sĩ Reilly cho tôi một câu phương ngôn Ả Rập nào đó, đại loại như câu ông Poirot đã dùng.


Nhân danh thánh Ala, Người đầy Tình thương và Nhân từ...


Một câu đại loại như vậy.
HẾT
Về Đầu Trang Go down
http://huyetnguyetlau.wordpress.com/
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Vụ Án Mạng Ở Vùng Mesopotamie - Agatha Christie   

Về Đầu Trang Go down
 

Vụ Án Mạng Ở Vùng Mesopotamie - Agatha Christie

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 2 trong tổng số 2 trangChuyển đến trang : Previous  1, 2

 Similar topics

-
» Án mạng trên sông Nile - Agatha Christie

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
CFC :: Giải Trí :: Thư viện :: Thư viện truyện trinh thám-